Các bước để đi đến con đường giác ngộ

1. Hiểu lý do vì sao luẩn quẩn vòng luân hồi

1. Hiểu lý do vì sao luẩn quẩn vòng luân hồi

1. Vô minh
Vô minh có nghĩa là không sáng suốt, mề lầm không nhận được bản tính duyên khởi chân thật. Vì vậy nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu có, dầu không đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, do nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể. 

Bởi vì vô minh nên sẽ tạo nên nhầm lẫn thật có, sự phiền não, chân tâm bị ẩn, gương trí tuệ lu mờ, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng. 

2. Hành
Hành là tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng, nó làm mọi người nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng, chủ trương gây nghiệp rồi chịu quả báo về sau. 

3. Thức
Tiếp theo tâm niệm sinh diệt, theo nghiệp báo duyên ra cái tâm thức của mỗi đời để chịu cái thân và cảnh của loài này. 

4. Danh sắc
Danh sắc là thân thể. Sắc là những cái có hình tướng như thân và cảnh. Danh là những cái không có hình tướng như cái tinh thần. Nói một cách khác, danh là tâm thức thuộc nghiệp nào thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy. 

5. Lục nhập
Lục nhập còn gọi nôm na là sáu chỗ vào. Khi đã có thân thể rồi thì phải có sáu căn là: mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý. Sáu căn này là chỗ tiếp xúc 6 trần: sắc, hương, thanh âm, vị, xúc, tưởng.

6. Xúc
Xúc là tiếp xúc. Sáu trần thường gặp gỡ và tiếp xúc với nhau. Mắt tiếp xúc với sắc, mũi tiếp xúc với mùi, tai tiếp xúc với tiếng, lưỡi tiếp xúc với vị, thân tiếp xúc với ấm lạnh, ý tiếp xúc tới pháp trần. 

7. Thọ
Thọ là lãnh thọ. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, sinh ra những cảnh vui, buồn, sướng, khổ. 

8. Ái
Ái là ưa muốn. Khi lãnh thọ cảnh vui thì sinh ra lòng tham, tính cách sở hữu, khi gặp cảnh khổ thì sinh ra tâm sân si, hận, buồn, muốn xa lìa,… Đây là những động cơ thúc đẩy thân, khẩu, ý tạo các nghiệp.  

9. Thủ
Thủ là giữ lấy, các hành động tạo tác. Nếu gặp cảnh thuận thì tham cầu, gặp cảnh nghịch thì lại sân, si, tiêu cực. Sau đó lại muốn tìm mọi phương kế để giữ cho bản ngã của mình, vì vậy mà tạo ra các nghiệp sanh tử. 

10. Hữu
Hữu là có, đời này có nghiệp lành hay dữ là do mình tạo ra nên đời sau sẽ có được quả vui hay khổ mà mình phải nhận. 

11. Sanh
Sanh tức là sống, sinh ra. Bởi vì “ái, thủ, hữu” làm nhân hiện tại nên tạo ra các nghiệp, quả kiếp sau phải sanh ra đời thể thọ quả báo theo nhân quả.

12. Lão Tử
Lão Tử là già rồi chết. Do có sinh ra, nên phải chịu các khổ và chết, đó là điều không ai tránh được. 

Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, có liên quan mật thiết với nhau. Nó chuyển mãi, vừa làm quả cho nhân trước vừa làm nhân cho quả sau, tiếp nối bất tận khiến cho chúng sinh chìm đắm mãi mãi trong vòng sanh tử. 


2. Hiểu về quy luật Nhân - Quả ở thế giới tứ đại

Nhân quả là từ Hán Việt. Trong cuộc sống, Nhân là nguyên nhân, là năng lực sản sinh ra quả: thành quả, kết quả, hậu quả: nhân quả là hành động và kết quả của hành động. Những gì bạn nói, nghĩ, làm trong cuộc đời này ở hiện tại sẽ quyết định những gì bạn nhận lại, gặp phải trong tương lai. Nói cách khác là hành động thiện hay ác, nếu hành động thiện thì được phước báo an vui, còn hành động ác thì sẽ chịu lấy sự đau khổ, tức là hành động nào sẽ gặt lấy hậu quả của hành động nấy như cha ông ta có câu "Gieo nhân nào gặp quả đấy". Cho nên, nhân quả tham lam đem lại cho đời người một sự nghèo đói bất hạnh vô cùng. 

Luật nhân quả xảy ra theo một vòng tròn tuần hoàn nhất định. Con người tạo ra nhân rồi lại gặt hái quả mà chẳng bao giờ ngừng lại được. Theo luật nhân quả mà Phật giáo đã dạy, thời gian nhân hình thành quả không giới hạn. Có thể chậm và cũng có thể nhanh tùy theo tính chất của sự việc và nhân duyên của mỗi người. Tuy nhiên, luật nhân quả luôn diễn ra theo một quy luật chung. Nhờ có các yếu tố phụ tác động vào quá trình này mà có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian thành quả.

Hiểu luật nhân quả để thấy được quá trình thọ hưởng của bản thân ở kiếp này, và lý do tại sao lại gập được "Chánh Pháp" ở thời điểm hiện tại. Thời gian của vũ trụ này như ngọn nên bừng sáng, rồi tắt, vì vậy người tu tập cần phải thấy được "Nhân - Duyên" và chặt đứt "Nhân - Quả" đó là lực từ trường "Hút" Tâm vật lý dính mắc ở cõi tứ đại.

3. Nhân duyên + Nhân quả = vòng luân hồi

Theo thế giới quan Phật giáo, các chúng sinh sẽ luân hồi 1 trong 6 cõi tùy theo nghiệp của mình: cõi người, cõi A-tu-la, cõi trời, địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Để thoát ra khỏi vòng luân hồi thì phải tu tập giác ngộ thành Phật, A-la-hán.

Vậy thì từ cái gọi là "Tâm" hay gọi là cái ta sẽ thọ nhận "Nhân - Quả" rồi biến tướng thành các hình thái, dẫn đến thọ nhận ở các thế giới khác nhau đi trong vòng trong. "Sinh - Diệt".

Và chỉ có cõi duy nhất là cõi người là có thể gập được phật pháp và tu luyện đi các cõi trong luân hồi, và giải thoát thành phật. Còn lại các cõi khác thì hết nghiệp báo vẫn phải trở lại làm người. Đến đây cho ta thấy được làm người là quý, gập được phật pháp là như gập được báu vật, quyết tâm tự tu học để giác ngộ đi ra ngoài luân hồi mới là "Thánh Nhân".


4. Giới -  Định -  Tuệ

Bát chánh đạo là gì?
Bát Chánh Đạo là tám con đường ngay thẳng hay tám phương tiện nhiệm màu đưa chúng sinh đến đời sống chí diệu. Hoặc là con đường chánh tám ngành hướng đến sự giác ngộ giải thoát. 

Bát chánh đạo còn được gọi với tên khác là Bát Thánh đạo, Bát chi chánh đạo, Bát Thánh đạo phần, Bát đạo hành, Bát trực hành, Bát chánh, Bát đạo, Bát chi, Bát pháp, hay Bát lộ.

Bát Chánh Đạo thuộc Đạo Đế trong Tứ Diệu Đế mà đức phật truyền dạy trong giáo lý đạo phật.

Bát chánh đạo được xem xét, được suy ngẫm, phải được thực hiện khi và chỉ khi, mỗi bước được chấp nhận hoàn toàn như là một phần của cuộc sống mà bạn tìm kiếm. Phật giáo không bao giờ đòi hỏi đức tin mù quáng, Phật giáo chỉ tìm cách thúc đẩy học hỏi và quá trình tự khám phá bản thân.

Bát chánh đạo gồm có:

- Chánh ngữ (skrt: Samyag-vāc, pāli: sammàvàca): nói đúng. 

- Chánh nghiệp (skrt: Samyak-karmānta, pāli: samm kammata): làm việc đúng. 

- Chánh mạng (skrt: Smnyag-ājīva, pāli: sammààjiva): sống đúng. 

- Chánh tinh tấn (skrt: Samyag-vyāyāma, pāli: sammààyàma): siêng năng đúng. 

- Chánh niệm (skrt: Samyak-smṛti, pāli: sammà satti): nhớ đúng. 

- Chánh kiến (skrt: samyag-dṛṣṭi, pāli:sammàditthi): thấy đúng. 

- Chánh tư duy (skrt: Samyak-saṁkalpa, pāli: sammàsankappa): suy nghĩ đúng. 

- Chánh định (Samyak-samadhi, pāli: sammà samàdhi): tập trung đúng.

Bát chánh đạo gồm có:
- Giới.
Chánh ngữ.
Chánh nghiệp.
Chánh mạng.
Nhóm này nhằm trau dồi, vun trồng những hành vi đạo đức tốt như lòng thương người (compassionate heart), tâm từ bi (compassionate mind) qua những gì mình nói, qua những gì mình làm, và qua nghề nghiệp mình chọn lựa để sinh sống.

. Định (Samadhi, Av. Concentration) gồm có:

Chánh tinh tấn.
Chánh niệm.
Chánh định.
Nhóm này giúp tập trung vào những đối hành động liên tục, hằng phục tâm ma vương, hướng đến sự nhận thấy tâm phật hằng thanh tịnh.

. Tuệ
- Chánh kiến
Chánh tư duy.
Nhóm này nhằm trau dồi, vun trồng trí tuệ để đi đến con đường đạt giác ngộ, phá vô minh nhìn thấu vận vật, vũ trụ như hằng huyễn.

Con đường tu tập Bát chánh đạo cũng chính là con đường tu tập của Giới - Định - Tuệ

Bát Chánh Đạo - 8 con đường hướng đến sự giác ngộ bao gồm:

1. Chánh kiến
Chánh là ngay thẳng, đúng đắn; Kiến là thấy, nhận biết. 

Chánh kiến là thấy, nghe, nhận thức đứng đắn, ngay thẳng; hiểu sự vô thường trong cuộc đời, những điều kiện không bằng lòng, và những yếu tố tùy thuộc lẫn nhau của cuộc đời đã gây ra những điều không được bằng lòng, những điều bất mãn.

Người có chánh kiến biết phân biệt cái nào giả, cái nào thật. Và khi đã biết cảnh giả, vật dối, thì mắt không chăm, tâm không chú; còn khi rõ biết cảnh vật thật, lời lẽ chân chính, chuyên tâm vào sự lý chân thật làm cho đèn huệ sáng ngời, tiền trần không che ám được.

Cũng như bạn có thể đọc các hướng dẫn trên bản đồ, nghiên cứu để chuẩn bị cho cuộc hành trình…đọc và kiểm tra các thông tin rất quan trọng, nhưng chỉ dừng lại ở khâu chuẩn bị. Ở mức độ sâu hơn, kinh nghiệm trực tiếp mới dẫn chúng ta đến sự hiểu biết đúng.

Hiểu biết thực tế là rất ít giá trị, nếu chúng ta không đặt nó vào trải nghiệm cá nhân trong cuộc sống của chúng ta. Do đó, chánh kiến ở đây không phải là hiểu lý thuyết mà là hiểu và nhận ra sự thật thông qua trải nghiệm cá nhân.

* Hiểu biết chân chánh:

-Hiểu biết tất cả sự vật hiện hữu trên thế gian này đều do nhân duyên sanh, không trường tồn và luôn luôn biến diệt.

- Nhận thức rõ nhân quả- nghiệp báo để hành động.

- Nhận thức rõ giá trị hiện hữu của thân người và mọi vật xung quanh.

- Nhận thức rõ Khổ- Vô thường- Vô ngã của vạn pháp.

- Nhận thức rõ tất cả chúng sanh cùng một bản thể thanh tịnh.

- Nhận thức rõ Tứ đế- Thập nhị nhân duyên, không chấp thường , chấp đọan.

* Hiểu biết không chân chánh:

 - Chấp Thượng đế tạo vật, không tin lý nhân quả nghiệp báo.

- Phủ nhận mọi sự vật hiện hữu, không nhận thức chúng từ nhân duyên sanh.

- Chấp vào thành kiến; quan niệm không bình đẳng giữa người và muôn vật.

- Cố chấp vào kiến thức vọng tưởng; không tin vào những quả vị giải thoát.

2. Chánh tư duy


Chánh tư duy là suy nghĩ đúng đắn với lẽ phải, loại bỏ những ý tưởng tham lam, hảm hại, tàn bạo và ác độc đới với người khác; luôn luôn phát triển và trau dồi lòng vị tha, thương người, và có ý đối xử tốt với mọi người, luôn luôn phát khởi ý tốt đối với mọi chúng sanh, luôn nghĩ tới những người đang khổ sở để mang đến điều tốt lành cho họ, để giải thoát khổ đau cho họ.

Người tu theo phép Chánh tư duy, thường xét nghĩ đạo lý cao siêu, suy tìm thể tánh nhiệm mầu, biết xét những hành vi lỗi lầm, những ý nghĩ xấu xa để sám hối; biết suy nghĩ về ba món vô lậu học: Giới, Ðịnh, Huệ, để tu giải thoát; biết suy xét vô minh và nguyên nhân đau khổ, là nguồn gốc của tội ác, và tìm phương pháp đúng đắn để tu hành hầu giải thoát cho mình và cho người.

* Suy nghĩ chân chánh:

-Suy nghĩ đến nguyên nhân đau khổ của mình và chúng sanh, ở đó vô minh là nguồn gốc của mọi tội lỗi, để biết mà tu tập, tìm được giải thóat cho mình và cho người.

- Suy nghĩ đến Giới - Định – Tuệ làm căn bản tiến tu đến quả vị Niết bàn.

* Suy nghĩ không chân chánh:

- Suy nghĩ đến lợi dưỡng, tài sắc, danh vọng tìm trăm mưu nghìn kế để hại người.

- Suy nghĩ đến nhiều cách để hơn người, mọi mưu mô để trả thù; dùng tà thuật; dựa vào lòng tin của con người để mê hoặc.

3. Chánh ngữ

Chánh ngữ là lời nói phải chân thật, đúng với lẽ phải, bởi vì lời nói có một sức mạnh có thể gây nên điều tốt cũng có thể gây nên sự hảm hại cho người nghe. Con người thường nói những điều mình nghĩ nên Chánh ngữ phải theo sau Chánh tư duy; như vậy phải suy nghĩ cẩn thận trước khi nói ra: "Lời nói chẳng mất tiền mua /Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau."

Chẳng luận là lời nói của ai miễn là lời ấy đúng sự thật, hợp chân lý thì cứ tin theo mà tu.

Vậy, phàm những lời nói đúng lý, hợp lẽ, có lợi ích cho toàn thể chúng sinh là chánh ngữ. Những lời nói ấy chúng ta phải tin theo và tập nói cho đúng như thế.


* Lời nói chân thật:

-Lời nói ngay thẳng, thành thật, hợp lý không thiên vị, hòa nhã, giản dị và sáng suốt.

-Lời nói lợi ích, đồng nhất và mang tính chất giúp chúng sinh, khuyến tu, mở bày ánh sáng giác ngộ tự tâm trong mỗi tha nhân.

-Lời nói mang tính chất tuyên dương đạo lý làm người; tuyên dương chánh pháp Từ bi và Trí tuệ.

* Lời nói không chân thật:

- Lời nói gây chia rẽ, không đúng sự thật.

-Lời nói để hại người, xuyên tạc, thiên vị, dua nịnh.

- Lời nói nguyền rủa , mắng nhiếc, vu họa và thô tục.

- Lời nói để bảo vệ Ngã và Ngã sở.

4. Chánh nghiệp


Chánh nghiệp là hành động nào cũng phải phù hợp với lẽ phải, đừng hãm hại bất cứ loài vật nào, bất cứ một người nào, ngay cả đừng có một ý định làm hảm hại người nào.

Chánh tư duy cũng diễn tả, cũng suy nghĩ về chánh nghiệp. Nói khác người có chánh nghiệp là luôn luôn có hành vi đạo đức tốt, tránh gây tổn thương quyền lợi và danh dự của kẻ khác.

Người theo đúng “chánh nghiệp” là người luôn luôn thận trọng , giữ gìn mọi hành động của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề ghiệp, địa vị, danh giá, hạnh phúc, tánh mạng của người khác. Hơn nưa người theo đúng chánh nghiệp bao giờ cũng tôn trọng lương tâm nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi ích cho mọi người, mọi vật; và nếu cần, có thể hy sinh quyền lời hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho người khác.

* Hành động chân chánh:

- Hành động theo lẽ phải, biết tôn trọng quyền sống chung của mọi người, mọi loài.

- Hành động có thận trọng không tổn hại đến nghề nghiệp, tài sản, danh giá và địa vị của kẻ khác.

- Hành động chân chánh là hành động có lương tâm, đạo đức trong địa vị của mình, biết gìn giữ tánh hạnh.

- Biết hy sinh chánh đáng để đem lại lợi lạc cho quần sanh.

* Hành động không chân chánh:

-Hành động không gìn giữ các phép tắc, giới điều.

- Hành động chỉ vì lợi mình mà hại người.

5. Chánh mạng


Chánh mạng là làm một nghề để sinh sống phải tránh làm hảm hại kẻ khác. Phật giáo thường khuyến khích con người loại bớt các tài sản vì nó ràng buộc mình. Thực ra thì cũng không có điều nào cấm cản việc tích trử tiền bạc và sắm các nữ trang quý giá. Tất cả tùy thuộc vào sự liên hệ của tài sản này do đâu mà có. Theo truyền thống thông thường thì sự giàu sang có thể là dấu hiệu của một nghiệp tốt lành (good karma). Tài sản dồi dào cũng có thể giúp hành giả một cơ hội giúp đỡ người khác qua lòng từ bi của hành giả.

Người theo Chánh mạng sống đúng Chánh pháp, không mê tín dị đoan, và biết thân tứ đại vốn vô thường, nên lấy tịnh giới làm thể, lấy trí huệ làm mạng, bỏ niệm vọng cầu, an vui với chánh pháp.

* Đời sống chân chánh:

-Sống bằng khả năng, tài năng chân chánh, không lừa dối gạt người.

- Sống thanh cao, đúng chánh pháp không mê tín.

* Đời sống không chân chánh:

- Làm tổn hại và não lọan tâm trí mọi người.

- Sống luồn cúi, dùng miệng lưỡi, mối lái để giao dịch thân thiện.

- Sống chạy theo mê tín, dị đoan; sống nương tựa ăn bám vào kẻ khác.

6. Chánh tinh tấn


Chánh tinh tấn là kỷ luật tinh thần nhằm chú tâm cố gắng, siêng năng, kiên nhẫn để sử dụng sự cố gắng thích hợp giữa hai cực đoan: một bên là lười biếng, một bên là làm quá sức. Chánh tinh tấn là loại bỏ những thái độ, những tư tưởng không đúng đắn. Chúng ta đã biết rằng Đức Phật đã cố gắng chống lại những trở lực để đi đến chỗ giác ngộ: Ngài đã bị thiếu nữ Mara cám dỗ, nhưng Ngài đã không bị lay chuyển để rồi đi đến chỗ đắc đạo.

Người theo đúng Chánh tinh tấn, trước tiên, bao giờ cũng hăng hái sửa mình, cương quyết bài trừ những điều ác, quyết tâm phát triển mọi hạnh lành (xem bài Tứ Chánh cần). Người theo đúng Chánh tinh tấn, dũng mãnh tiến lên trên đường đi đến giải thoát, cho đến lúc nào đạt được mục đích cao cả, cùng tột ấy mới thôi (xem đoạn “Tấn căn” trong bài Ngũ căn). Quyết tạo nghiệp vô lậu xuất thế gian, lấy chánh trí làm mãnh lực, lấy Niết Bàn làm chỗ quy hướng, một lòng chẳng trễ, muôn kiếp không dời, quyết công phu, định thành đạo quả để trước tự độ, sau hóa độ chúng sanh.

* Chuyên cần chân chánh:

- Quyết tâm lọai bỏ các việc ác đã sanh, ngăn ngừa những việc ác chưa sanh.

- Chuyên làm các việc lành việc tốt.

- Chuyên cần trau dồi phước đức và trí tuệ.

* Chuyên cần không chân chánh:

- Là người say sưa với ngũ dục và khóai lạc.

- Là kẻ say sưa lạc thú làm tổn hại đến người khác, không tiết chế bản thân.

7. Chánh niệm


Chánh niệm có nghĩa là phải làm cho đời sống của chúng ta gắn liền với những gì mà ta đang làm trong hiện tại. Ví dụ: khi ăn thì ta chú tâm ăn, khi đọc sách thì ta chú tâm đọc, khi đọc Kinh Phật thì ta chú tâm và kinh Phật, Khi đang lái xe thì chú tâm vào việc lái xe, khi rửa chén thì chú tâm vào việc rửa chén.

Chánh niệm khiến chúng ta gợi lại những điều trong quá khứ, nhất là để tâm vào những điều ta luyến tiếc. Chánh niệm khiến chúng ta nghĩ đến tương lai, nhất là những điều chúng ta đang lo lắng. Rồi Chánh niệm giúp ta trở lại giây phút hiện tại để chú ý vào những điều ta đang muốn và đang xảy ra trong hiện tại và tìm ra một giải pháp thích hợp.

Chánh niệm có hai phần:
a) Chánh ức niệm:là nghĩ nhớ đến các điều lỗi lầm để thành tâm sám hối, và nghĩ nhớ đến Tứ trọng ân: ân cha mẹ, ân tổ quốc, ân chúng sinh và ân Tam Bảo để lo báo đền.
b) Chánh quán niệm:là dùng tâm từ bi xét nghĩ cuộc đời là khổ não, tật bệnh, mê mờ mà chúng sinh đang mắc phải, để mở rộng lòng thương yêu và quyết ra tay cứu độ.
Người theo đúng Chánh niệm, thường quán sát cảnh chân đế, năng tưởng niệm các pháp trợ đạo; bất luận ở đâu và làm gì, cũng nhớ nghĩ đến cái quả vô lậu xuất thế gian, dù trải qua bao nhiêu số kiếp cũng không thối tâm xao lãng.

* Ức niệm chân chánh:

- Nhớ đến tứ ân.

- Nhớ đến những lỗi lầm xưa, đừng để tái phạm trong hiện tại và tương lai.

* Ức niệm không chân chánh:

- Nhớ lại những óan hận để phục thù.

- Nhớ lại những hạnh phúc mong manh không ích lợi.

- Nhớ lại hành động oai hùng, dùng thủ đọan xảo trá, tàn bạo đã qua để hãnh diện tự đắc.

* Quán niệm chân chánh:

- Quán niệm Từ bi: Thấy nỗi khổ của chúng sanh trong luân hồi sanh lòng thương xót, tìm nhiều phương tiện để giúp đở họ. Thấy sự mê lầm của mình và người dẫn đến sầu, bi , khổ, ưu và não, thực hành lời Phật dạy để chấm dứt mê lầm.

- Quán niệm Trí huệ: Quán niệm nguyên nhân sanh hóa vũ trụ, óan thân, tốt xấu, cao thấp; quán niệm thực tướng của các pháp để vững tiến trên con đường giải thoát.

* Quán niệm không chân chánh:

- Nhớ nghĩ đến dục lạc, khóai cảm.

- Nhớ nghĩ đến kế sách, âm mưu và phương tiện giết hại lẫn nhau.

- Nhớ nghĩ đến văn tự xảo trá để gạt người.

8. Chánh định


Chánh định là tập trung tư tưởng vào một vấn đề gì tốt lành như lòng từ bi, như sự vô thường của cuộc đời. Tâm thần của chúng ta được coi như là một tấm gương dính bụi, Chánh định coi như lau chùi tấm gương để tấm gương được sáng tỏ. Nói khác, Chánh định giúp cho tâm thần được sáng sủa để nhìn sự vật như là nó hiện hữu trong thực tại.

Chánh định giúp chúng ta nhìn thấu triệt tính vô thường, tính duyên khởi của mọi sự vật, mọi hoàn cảnh ở đời để giúp chúng ta làm giảm những lo lắng, sợ sệt, nghi ngờ, tham luyến, giận dữ và ảo tưởng về một việc hay một vấn đề nào đó; và nhờ đó cuộc sống của chúng ta sẽ bình an hơn, sẽ khéo léo hơn, và sẽ từ bi hơn để đem lợi ích cho chính chúng ta và cho người khác.

Người theo đúng Chánh định, thường tập trung tư tưởng để quan sát những vấn đề chính sau đây:

Quán thân bất tịnh: (bất tịnh quán) tức là quán tưởng thân không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái (xem lại đoạn: “quán thân bất tịnh” trong bài Tứ niệm xứ).

Quán từ bi: (từ bi quán) là quán tưởng tất cả chúng sinh đều là một chân tâm, bình đẳng không khác, để đoạn trừ thù hận, và mở rộng lòng thương yêu để cứu độ chúng sinh.

Quán nhân duyên: (nhân duyên quán) là quán tưởng tất cả pháp hữu hình như muôn vật, vô hình như tâm niệm đều là giả hợp, duyên nhau mà có, chứ không có một cách chân thật, không trường tồn, để đoạn trừ ngu si, pháp chấp.

Quán giới phân biệt: (giới phân biệt quán) nghĩa là phân biệt và quán tưởng sự giả hợp của 18 giới: 6 căn, 6 trần, 6 thức để thấy không thật có “ngã, pháp” ngõ hầu diệh trừ ngã chấp, pháp chấp.

Quán hơi thở: (sổ tức quán) nghĩa là qúan tưởng bằng cách chuyên chú đếm hơi thở ra vào, để đối trị sự tán loạn của tâm thức.

* Thiền định chân chánh:

- Bất tịnh quán: quán các pháp không thanh tịnh, để trừ tham dục, si ái v.v…….

-Từ Bi Quán : Quán sát tất cả chúng sanh đồng thể tánh thanh tịnh, không hơn không kém để tôn trọng, kính quý và đọan trừ tâm hận thù

- Nhân duyên quán: Quán tất cả pháp đều do nhân duyên mà thành, không có một pháp nào riêng biệt trong thế giới tương tức tương nhập ( Kinh hoa nghiêm), không chân thật, không trường tồn, để đọan trừ ngu si thiên chấp.

- Giới phân biệt quán: Nghĩa là phân biệt và quán sát sự giả hợp của 18 giới ( 6 căn, 6 trần, 6 thức) để thấy không thật có ngã pháp và diệt trừ ngu si cố chấp.

- Sổ tức quán: Nghĩa là quán hơi thở, để đối trị tâm tán lọan để đi sâu vào thiền định.

* Thiền định không chân chánh:

-Thiền định để cầu thác sinh các cõi trời.

-Thiền định để luyện bùa chú, thần thông, phép lạ, trường sanh bất tử.

Trên thực tế, toàn bộ giáo huấn của Đức Phật, những gì mà Ngài giảng dạy trong suốt 45 năm dù làm theo cách này hay cách khác với con đường này. Ngài đã giải thích nó theo những cách khác nhau và bằng những từ khác nhau cho những người khác nhau, theo giai đoạn phát triển của họ. Nhưng bản chất của hàng ngàn lời thuyết giảng ở khắp nơi trong kinh điển Phật giáo đều được tìm thấy trong Bát chánh đạo.

Tu tập Bát chánh đạo chính là tu tập Thân - Khẩu - Ý của chúng ta, khi thực hành Bát chánh đạo thì gặt hái nhiều kết quả tốt.

Bát chánh đạo lại là nền tảng chánh giác, là căn bản của Giải thoát - Giác ngộ.

Mối liên hệ giữa Vô Thường, Khổ, Vô ngã

Vô thường, khổ và vô ngã được gọi là Tam Pháp Ấn, tức là 3 ấn tướng hay 3 yếu tính trong cùng một pháp chứ không phải là 3 thành phần riêng biệt với nhau. Vì vậy chỉ cần thấy được một trong ba tính chất này tức là đã thấy được thực tính pháp, nên ngay đó liền thấy được hai tính chất còn lại, chứ không phải thấy yếu tính này xong rồi mới tìm hiểu yếu tính kia.

Người có quá nhiều kiến chấp, tức là luôn cho là, phải là, sẽ là thì chỉ cần thấy ra được vô thường là giác ngộ. Người đầy lòng tham ái tạo tác các nghiệp bất thiện thì chỉ cần thấy được khổ là giác ngộ. Còn người chấp ta, của ta và tự ngã của ta thì chỉ cần thấy được tất cả các pháp đều vô ngã là giác ngộ.

Mối liên hệ giữa vô thường, khổ, vô ngã như sau: một khi không thấy được vô thường, còn cho là, phải là, sẽ là thì chắc chắn sẽ không toại nguyện và sẽ rơi vào khổ, vì pháp vận hành vô thường theo luật duyên khởi chứ không theo ý muốn của mình. Vạn vật không cái gì có thể tồn tại độc lập mà luôn phụ thuộc lẫn nhau, nương nhau mà sinh cũng nương nhau mà diệt, đó chính là vô ngã.

Người thấy ra bản chất thực của cuộc sống là Vô thường, Khổ, Vô ngã và có thái độ rỗng lặng trong sáng khi đối diện với chúng thì có thể sống tự tại vô ngại ngay giữa cuộc sống vô thường, khổ, vô ngã này. Đó là người đã giác ngộ giải thoát, chứ không phải giải thoát tức là "trốn" khỏi vô thường, khổ, vô ngã.

5. Chứng thấy "Khổ - Vô thường - vô ngã"

II- Nội dung Tứ diệu đế
1)- Khổ đế (Dukkha): Khổ đau là một thực trạng mà con người cảm nhận từ lúc lọt lòng mẹ cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, không ai phủ nhận điều ấy. Con người luôn có xu hướng vượt thoát khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc, nhưng vì không hiểu rõ bản chất của khổ đau nên không tìm được lối thoát thực sự; đôi khi ngược lại, càng tìm kiếm hạnh phúc càng vướng vào khổ đau.
Khổ đế là một chân lý, một sự thực về bản chất cái khổ. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, thương yêu mà biệt ly là khổ, mong cầu mà không được là khổ. Tóm lại, chấp thủ năm uẩn là khổ« (Tương Ưng V). Như vậy, Khổ có thể chia làm 3 phương diện như sau:
a)- Về phương diện sinh lý: Khổ là một cảm giác khó chịu, bức xúc, đau đớn. Khi ta bị một gai nhọn đâm buốt bàn chân hay một hạt cát vào trong mắt khó chịu..., đây là sự bức bách đau đớn của thể xác. Sự đau đớn của thể xác rất lớn, như Lão Tử nói: «Ngô hữu đại hoạn do ngô hữu thân« (Có thân nên có khổ). Con người sinh ra đã vất vả khốn đốn; lớn lên già yếu, bệnh tật khốn khổ vô cùng; và cuối cùng, cái chết: sự tan rã cuối cùng của thể xác đem đến khổ thọ lớn lao.
b)- Về phương diện tâm lý: Là sự khổ đau do không toại ý, không vừa lòng v.v... Sự không vừa ý sẽ tạo nên nỗi đau đớn về tâm lý. Những mất mát, thua thiệt trong cuộc đời làm mình khổ. Người mình thương muốn gần mà không được, người mình ghét mà cứ gặp gỡ hoài, mình muốn tiền tài, danh vọng, địa vị nhưng nó cứ vụt qua ngoài tầm tay của mình. Cuộc đời như muốn trêu ngươi, những ước mơ không toại ý, lòng mình luôn trống trải, bức bách v.v... Đây là nỗi khổ thuộc về tâm lý.

c)- Khổ là sự chấp thủ năm uẩn (Upadana-skandhas): Cái khổ thứ ba này bao hàm hai cái khổ trên, như trong kinh đã dạy: «Chấp thủ năm uẩn là khổ«.

Năm uẩn là 5 yếu tố nương tựa vào nhau để tạo thành con người, gồm có: thân thể vật lý và cấu trúc tâm lý như: cảm giác, niệm tưởng, hành và thức (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Nói một cách tổng quát, khi ta bám víu vào 5 yếu tố trên, coi đó là ta, là của ta, là tự ngã của ta, thì sự khổ đau có mặt. Ý niệm về «thân thể tôi«, «tình cảm tôi«, «tư tưởng tôi«, «tâm tư tôi«, «nhận thức của tôi«... hình thành một cái tôi ham muốn, vị kỷ; từ đó, mọi khổ đau phát sinh. Mọi khổ đau, lo lắng, sợ hãi, thất vọng, điên cuồng đều gắn liền với ý niệm về «cái tôi« ấy.

Tóm lại, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý. Về mặt bản chất, khổ đau là do sự chấp thủ, ngã hóa năm uẩn.
2)- Tập đế (Samudaya): Tập là tích tập, các phiền não tụ hội tạo thành năng lực đưa đến khổ đau; đây là nguyên nhân, là nguồn gốc của các khổ. Khi nhận thức được bản chất của khổ một cách rõ ràng, ta mới có thể đi vào con đường đoạn tận khổ đau (Đạo đế).
Cuộc đời là khổ đau hay không khổ? Câu trả lời là tùy thuộc vào thái độ tâm lý, cảm thọ và nhận thức của mỗi người; nguyên nhân của khổ có nguồn gốc sâu xa trong tâm tưởng của con người. Phật giáo cũng nhìn thấy các nguyên nhân của đau khổ; có cái phát sinh từ vật chất hay hoàn cảnh xã hội, nhưng nguyên nhân thật sự vẫn là tâm thức.
Nguyên nhân của khổ thường được các kinh đề cập chính là tham ái, do tham ái mà chấp thủ, bám víu vào các đối tượng của tham ái. Sự khao khát về dục lạc sẽ dẫn đến khổ đau, bởi vì lòng khao khát ấy không bao giờ thỏa mãn.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng. Do không thấy rõ nên sinh tâm tham muốn, ôm giữ lấy các đối tượng lạc thú. Do không thấy rõ mới lầm tưởng rằng «cái tôi« là quan trọng nhất, là cái có thực cần phải bám víu, củng cố và thỏa mãn nhu cầu của nó. Nói cách khác, do vô minh mà có chấp thủ «cái tôi« và «cái của tôi« như thân tôi, tình cảm tôi, tư tưởng tôi..., người yêu của tôi, tài sản của tôi, sự nghiệp của tôi... Do những chấp thủ ấy mà có những nỗi thống khổ của cuộc đời.
Tóm lại, chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình; lòng mình đầy tham lam, chấp thủ, nhận thức sai lầm thì khổ là chắc chắn. Nói cách khác, do cái nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng vị kỷ hay phiền não khuấy động, chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc, hạnh phúc.
3)- Diệt đế (Nirodha): Diệt là chấm dứt, là dập tắt. Diệt đế là sự chấm dứt hay dập tắt phiền não, nguyên nhân đưa đến đau khổ và sự chấm dứt khổ đau; cũng có nghĩa là hạnh phúc, an lạc. Diệt đế đồng nghĩa với Niết bàn (Nirvana/Nibbàna).
Đạo Phật xác nhận cuộc đời đầy dẫy những đau khổ, đồng thời cũng xác định có một sự thật khác nữa là an lạc, hạnh phúc. Vì vậy mà có sự tu tập để đạt được hạnh phúc. Hạnh phúc là gì? Hạnh phúc có các mức độ khác nhau.
a)- Hạnh phúc tương đối: Một khi bạn đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp thủ, thì những nỗi lo âu, sợ hãi, bất an giảm hẳn, thân tâm của bạn trở nên thanh thản, đầu óc tỉnh táo; bạn nhìn mọi vấn đề trở nên đơn giản và rộng lượng hơn. Đó là một hình thức của hạnh phúc. Kinh Trung Bộ có một ví dụ: Có một người con trai đang yêu một cô gái. Tình cờ, anh ta bắt gặp cô gái nói chuyện, cười đùa với một chàng trai khác. Tâm hồn của người con trai đang yêu ấy bị xáo trộn mạnh mẽ, khó chịu, bực bội và đau khổ. Thời gian sau, người con trai ấy không còn yêu thương cô gái ấy nữa; lần này, anh ta gặp cô ái ấy đang nói chuyện, cười đùa với những chàng trai khác, nhưng hình ảnh ấy không làm tâm hồn anh ta đau đớn nữa. Cũng vậy, nhờ tâm trí không bị chi phối bởi những tư tưởng chấp thủ, nhờ không bị đun nóng bởi các ngọn lửa phiền muộn, lo lắng, sợ hãi, mà tâm ý của bạn trầm tĩnh và sáng suốt hơn, khả năng nhận thức sự vật hiện tượng sâu sắc và chính xác hơn, bạn tạo nên một phép lạ: thân tâm được chuyển hóa, thái độ ứng xử của bạn đối với mọi người độ lượng, bao dung và khiêm tốn; đối với của cải, tài sản, danh vọng trở nên thanh thản hơn, không còn bị áp lực của nó đè nặng lên trái tim mình. Trên cơ sở ấy, bạn hưởng thụ đời sống có phẩm chất hơn.
Tóm lại, tùy vào khả năng giảm thiểu lòng tham, sân và vô minh đến mức độ nào thì đời sống của bạn sẽ được tăng phần hạnh phúc lên mức độ ấy.

Nếu bạn phát triển hạnh phúc tinh thần cao hơn bằng cách tu tập thiền định thì bạn sẽ có sự an lạc tuyệt vời. Đức Phật dạy: «Có người có thể không bị bệnh về thể xác trong một năm hay có thể đến cả trăm năm, nhưng thật hiếm có người không bị bệnh về tinh thần, dù chỉ trong một phút«. Những tâm lý được coi là bệnh của tinh thần gồm có 5 trạng thái tâm lý, thường gọi là 5 triền cái: tham lam, sân hận, hôn trầm ngủ nghỉ, dao động và hối hận, hoài nghi và do dự. Khi 5 loại tâm lý này có mặt, nó sẽ trói buộc và ngăn che tâm trí bạn; loại trừ chúng thì tinh thần sẽ sáng tỏ thanh tịnh và an lạc như mặt trăng thoát khỏi mây che. Các trạng thái hạnh phúc tinh thần này được gọi là Tứ thiền.

b)- Hạnh phúc tuyệt đối: Trên nền tảng hạnh phúc tinh thần, bạn phát triển tuệ quán, hướng tâm đến đoạn trừ toàn bộ phiền não vi tế, thâm sâu, bạn có thể đạt hạnh phúc tuyệt đối, tối thượng là Niết bàn. Diệt đế chính là Niết bàn. Niết bàn là sự thanh tịnh, là hạnh phúc tuyệt đối. Đức Phật dạy: «Vô bệnh lợi tối thắng, Niết bàn lạc tối thắng« (K.Magandiya, TBK II).

Niết bàn còn được diễn tả dưới nhiều danh từ khác nhau, tiêu biểu như: vô sanh, giải thoát, vô vi, vô lậu, đáo bỉ ngạn, tịch tịnh, chân như, thực tướng, pháp thân... Niết bàn không phải là đối tượng của tư duy, khái niệm hay ngôn ngữ. Đây là trạng thái an lạc, hạnh phúc tuyệt đối khi tâm ý đã vắng mặt tham, sân, si.
Chúng ta thường quan niệm Niết bàn như một cảnh giới, một cõi nào đó cao cấp hơn cõi người, như là cõi thiên đường của các tôn giáo khác; đó là một sai lầm lớn. Niết bàn vượt thoát mọi khái niệm đối đãi về thời gian, không gian, có, không, lớn, nhỏ... Dù vậy, Niết bàn không phải là hư vô, mà là một thực tại thanh tịnh, siêu việt, không nằm trong phạm vi phân biệt của ý thức, hay nói cách khác, không thể nhận thức được Niết bàn khi đang còn tham, sân, si. Một vị Thiền sư nói: «Hãy nhìn những rặng núi, những con suối chảy, những rừng cây xanh ngắt đẹp tuyệt vời kia. Khi biết nhìn mọi vật với một nhãn quan mới, một nhãn quan không bị chi phối bởi tham sân si, thì cảnh đẹp kia chính là Niết bàn đó ! Niết bàn không phải là một nơi chốn nào khác biệt với thế gian, một cảnh giới nào mà người ta có thể tìm đến. Niết bàn chính là ở đây«. Đức Phật và các vị Bồ Tát, A La Hán đã đạt Niết bàn ngay trong đời sống này. Điều đó nghĩa là Niết bàn nằm ngay trong tầm tay của mỗi người. Biểu hiện của Niết bàn là không còn tạo nghiệp và không còn tái sinh.
4)- Đạo đế (Magga): Đạo là con đường, là phương pháp thực hiện để đạt được an lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày hay hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Như vậy, toàn bộ giáo lý mà Đức Phật đã dạy đều là Đạo đế, tổng quát và căn bản gồm có 37 pháp, thường gọi là 37 phẩm trợ đạo. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, đây là những pháp do ta chứng ngộ và giảng dạy, các con phải khéo học hỏi, thực chứng tu tập, truyền bá rộng rãi để chánh pháp được trường tồn, vì hạnh phúc cho chúng sinh, vì an lạc cho chúng sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người. Đó là Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn thần túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Tám thánh đạo phần« (kinh Đại Bát Niết Bàn).
Trong 37 pháp thì Tám thánh đạo được coi là tiêu biểu và căn bản nhất của Đạo đế. Tám thánh đạo, còn gọi là Tám chánh đạo - con đường chân chính - có 8 chi phần:
1)- Chánh kiến (Sammà Ditthi): Thấy và hiểu đúng đắn, nghĩa là nhận thức đúng về đạo đức của cuộc sống, cái nào là thiện, cái nào là ác. Nhận biết đúng về bản chất của sự vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Nhận thức rõ bản chất của khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến hết khổ.
2)- Chánh tư duy (Sammà Sankappa): Suy nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng để đầu óc của mình nghĩ ngợi những vấn đề bất thiện như tham dục, tức tối giận hờn, bạo động hãm hại... dẫn tư duy của mình hướng về tâm cao thượng như tư duy về sự buông thả, sự giải thoát, về thương yêu giúp đỡ chúng sinh, về sự bất bạo động, nhẫn nhục, trầm tĩnh.

3)- Chánh ngữ (Sammà Vàcà): Ngôn ngữ đúng đắn, nghĩa là không nói những lời đưa đến đau khổ, chia rẽ, hung bạo, căm thù. Nói những lời lẽ đưa đến xây dựng niềm tin, đoàn kết hòa hợp, thương yêu và lợi ích.

4)- Chánh nghiệp (Sammà Kammanta): Hành vi đúng đắn, nghĩa là không có hành vi giết hại, trộm cướp, hành dâm phi pháp. Thực hành sự thương yêu, cứu giúp, không ham muốn thú vui bất thiện.

5)- Chánh mạng (Sammà Ajivà): Đời sống đúng đắn, nghĩa là phương tiện mưu sinh, nghề nghiệp chân chính, không sống bằng những nghề phi pháp, độc ác, gian xảo.

6)- Chánh tinh tấn (Sammà Vàyàma): Nỗ lực đúng đắn, nghĩa là nỗ lực đoạn trừ điều ác, nỗ lực thực hành điều thiện.

7)- Chánh niệm (Sammà Sati): Nhớ nghĩ đúng đắn, nghĩa là đừng nhớ nghĩ các pháp bất thiện, đừng để cho các đối tượng bất chính dẫn dắt mình đi lang thang. An trú tâm ý vào thiện pháp, không quên thiện pháp.

8)- Chánh định (Sammà Samàthi): Tập trung tư tưởng đúng đắn, nghĩa là đừng để tâm thức bị rối loạn, tập trung tư tưởng làm an tịnh tâm thức một cách đúng đắn, có hiệu quả phát triển tuệ giác.

Mối quan hệ giữa các chi phần Bát chánh đạo là không thể phân ly, chi phần này có trong chi phần kia, cái kia hỗ trợ cho cái này. Tám chánh đạo có thể chia làm 3 bước là Giới, Định và Tuệ. Giới là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; Định là Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định; Tuệ là Chánh kiến, Chánh tư duy. Xác định Bát chánh đạo là con đường đưa đến giải thoát, Đức Phật dạy: «Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát thánh đạo thì ở đấy không có Tứ quả Sa môn« (kinh Đại Bát Niết bàn, TB I). Đức Phật dạy thêm: «Nếu những Tỳ kheo sống chân chính (theo Bát chánh đạo) thì cõi đời này không thiếu vắng những vị A La Hán«.
Con đường tu tập của Đạo đế là con đường nỗ lực tự thân của mỗi hành giả Phật tử; con đường ấy vừa thực tiễn vừa có hiệu quả ngay tại đời sống này.
III- Tu tập Bốn chân lý
Giáo lý đạo Phật không phải là một học thuyết, mà là một công trình tu tập, có thực hành mới biến lý thuyết thành thực tiễn, thành chất liệu sống trong mỗi con người, như ăn cơm mới no, uống nước mới hết khát. Đó là chỗ khó khăn của người Phật tử, không thể nhờ cậy vào ai tu giúp cho mình, hoặc ai ban cho mình được giải thoát, hết khổ.
Trong kinh đưa ra 3 giai đoạn nhận thức và hành trì đối với Bốn chân lý, thuật ngữ gọi là Tam chuyển: Thị chuyển, Khuyến chuyển, Chứng chuyển.
1)- Đối với Khổ đế:Thị chuyển là nhận thức, hay nhận diện cái khổ. Thấy được khổ là bước đầu tiên; nếu không thấy, không biết thì sẽ không có hành động diệt khổ. Khuyến chuyển là đi sâu hơn vào bản chất cái khổ, khởi lên ước muốn đoạn trừ khổ. Chứng chuyển cảm nhận một cách sâu sắc và toàn diện về bản chất của khổ đau.
2)- Đối với Tập đế: Thị chuyển là nhận diện nguyên nhân đưa đến đau khổ. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đoạn trừ các nguyên nhân ấy. Chứng chuyển là tu tập, nỗ lực để đoạn trừ chúng.
3)- Đối với Diệt đế: Thị chuyển là nhận thức được sự vắng mặt của đau khổ là hạnh phúc, là không có đau khổ, ta phải thấy điều ấy. Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn được hạnh phúc, hưởng được niềm vui, thanh thản an lạc của đời sống. Chứng chuyển là đạt được, hưởng thụ thật sự trạng thái an lạc ấy.
4)- Đối với Đạo đế: Thị chuyển là nhìn thấy con đường, thấy được phương pháp diệt khổ, thấy rõ rằng đây là con đường đưa đến giải thoát; nói cách khác, thấy được lối thoát ! Khuyến chuyển là khởi lên ước muốn đi trên con đường ấy, khởi hành trên lộ trình ấy. Chứng chuyển là đi trên con đường ấy một cách trọn vẹn.
Tóm lại, đối với mỗi chân lý, chúng ta đều phải nhận thức rõ ràng. Từ nhận thức thông suốt sẽ dẫn đến ước muốn hành động, và cuối cùng đạt được mục đích. Chúng ta phải thấy rõ diễn biến của hành vi, ngôn ngữ và tư duy của chính mình, cái nào có đau khổ, gây ra đau khổ, ta phải nhận diện và diệt trừ chúng; ta chuyển hóa nó để hưởng được niềm an bình hạnh phúc của Diệt đế. Hạnh phúc hay đau khổ đều xuất phát từ nơi thân tâm của chúng ta.
C- Kết luận
Con người đau khổ không phải vì thiếu thốn vật chất, tiền của, danh vọng, mà chính là vì vô minh. Sự mê muội làm cho con người chưa nhận thức đúng đắn bản chất của cuộc đời. Đạo Phật chỉ dẫn cho con người một hướng đi, một lối thoát, cung cấp phương tiện để cho con người khai mở kho tàng trí tuệ của chính mình. Định nghĩa về vô minh, Đức Phật dạy: «Chính là không biết rõ khổ, nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến diệt khổ, này các Tỳ kheo, đấy gọi là vô minh« (Tương Ưng V). Và ngược lại là minh, là trí tuệ. Dưới cái nhìn của trí tuệ, mối quan hệ duyên sinh của Bốn chân lý hiển lộ rõ ràng, thấy được một chân lý là thấy được toàn bộ chân lý. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, ai thấy khổ, người ấy cũng thấy nguyên nhân của khổ, thấy khổ diệt, thấy con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được nguyên nhân của khổ, cũng thấy được khổ, thấy được khổ diệt và con đường đưa đến diệt khổ. Ai thấy được khổ diệt, cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ, con đường đưa đến khổ diệt. Ai thấy được con dường đưa đến khổ diệt, thì cũng thấy được khổ, nguyên nhân của khổ và sự diệt khổ« (Tương Ưng V). Nhận thức đúng như thế là Chánh kiến, nó đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình tu tập Bốn chân lý; nói cách khác, Chánh kiến đi hàng đầu trong mọi pháp môn. Nhận thức sáng tỏ ấy còn gọi là Kiến đạo.

Giáo lý Bốn chân lý vừa là phương tiện, vừa là cứu cánh. Một giáo lý hoàn chỉnh đầy tính nhân bản đem lại niềm tin, sức sống cho con người, xã hội đương thời và vẫn thiết thực lợi ích cho con người và xã hội hiện đại.

Đặc tính của giáo lý Tứ diệu đế là con đường Trung đạo, không rơi vào cực đoan hưởng thụ dục lạc hay khổ hạnh ép xác. Giáo lý Tứ diệu đế bao hàm tất cả các giáo pháp mà Đức Phật đã dạy. Giáo lý Tứ diệu đế có thể thực hành cho người xuất gia cũng như tại gia, ai cũng tu tập được, ai cũng có thể nếm hương vị giải thoát, đáp ứng được nhu cầu thoát khổ cho cá nhân và chuyển hóa xã hội./.

6. Hiểu về Tánh người - Và "Tánh Phật"

Người muốn tu giải thoát thì phải hiểu thật kỹ 16 thứ của tánh Người. Từ chỗ hiểu thật rõ đó mới biết tu như thế nào được giải thoát, tu sao còn luân hồi.

1. Thọ: là nhận như cảm giác khổ, vui, buồn, thương, giận, ghét...

2. Tưởng: là tưởng tượng ra đủ thứ trên đời

3. Hành: là suy nghĩ và hành động

4. Thức: là nhận biết, có 2 phần. Cái Biết Thanh Tịnh là của Phật tánh Biết. Còn biết mà chồng thêm cái ham muốn nữa, tức dính mắc là cái biết của tánh Người

5. Tài: là tiền. Vì có thân tứ đại nên phải tìm mọi cách kiếm cho thật nhiều tiền để cung phụng cho thân tứ đại nên sinh ra tham Tài

6. Sắc: vì muốn cho thân tứ đại thụ hưởng sắc đẹp của thân và vật chất nên tìm kiếm, sinh ra tham Sắc

7. Danh: vì muốn cho thân tứ đại và “cái tôi” của mình hơn hẳn người khác nên phải làm sao cho có danh tiếng, khi có rồi phải cố giữ lấy

8. Thực: vì muốn cho thân tứ đại được đầy đủ, sợ nó gầy, xấu đi nên phải bày đủ thứ để ăn uống, dù tốn kém bao nhiêu cũng phải được Thực cho thật ngon

9. Thùy: sợ thân tứ đại xấu đi nên phải tìm cách ngủ nghĩ cho thật êm ấm, chỗ nghĩ phải cao sang

10. Tham: chỉ vì mang thân tứ đại nên phải Tham để cung phụng cho nó

11. Sân: vì có thân tứ đại nên ai nói nặng hay đụng đến thì phải Sân

12. Si: vì có thân tứ đại nên nó muốn cái gì mà không được thì phải Si

13. Mạn: vì có thân tứ đại, công với cái tôi nên ai làm trái ý, nó phải bộc lộ cái Ngã Mạn ra

14. Nghi: để bảo vệ thân tứ đại và vật chất mình có nên không tin ai, dẫn đến nghi ngờ người khác. Vì chỗ nghi ngờ này mà thù hằn với nhau

15. Ác: vì sợ tổn hại đến thân tứ đại nên bày ra đủ thứ hại người hại vật nên sanh ra Ác

16. Kiến: vì có thân tứ đại và cái tôi nên cho rằng mình đúng, nếu ai bác bỏ, liền bảo thủ cho mình là hay hơn hết nên sanh ra Kiến chấp

CẤU TẠO THÂN CỦA MỘT CON NGƯỜI

***

Thân của một con người được cấu tạo như sau:

Một là, Tánh Phật.

Hai là, Tánh Người.

Ba là, Tứ đại.

Giải rõ:

1. Tánh Phật: Tánh Phật tự nhiên có cái “Ý”. Trong mỗi cái Ý tự nhiên có 4 thứ, gồm:

- Có cái tự nhiên Thấy, gọi là “Hằng Thấy”.

- Có cái tự nhiên Nghe, gọi là “Hằng Nghe”.

- Có cái tự nhiên Rung động, muốn phát ra tiếng, tự nhiên có tiếng, gọi là “Hằng Pháp”, tức tiếng nói.

- Có cái tự nhiên Biết, gọi là “Hằng Tri”.

Bốn thứ này gọi là sự sống của cái Ý.

Cái Ý này được điện từ Quang trong Phật giới bao bọc lại gọi là “Tánh của Ý”, được gọi tắt là “Tánh Phật” hay “Phật Tánh”.

Điện từ Quang chính là sự sống cho Tánh Phật.

2. Tánh Người: Tánh của mỗi con Người ai cũng có 16 thứ, gồm: 1- Thọ. 2- Tưởng. 3- Hành. 4- Thức. 5- Tài. 6- Sắc. 7- Danh. 8- Thực. 9- Thùy. 10- Tham. 11- Sân. 12- Si. 13- Mạn. 14- Nghi. 15- Ác. 16- Kiến.

Mười sáu thứ tánh Người và Vỏ bọc tánh Người, cấu tạo bằng điện từ Âm Dương.

3. Tứ đại: Cấu tạo của Thân một con người là do Tứ đại hợp thành gồm: Đất, Nước, Gió, Lửa:

a) Đất: Là phần da, thịt, gân, xương, v.v…

b) Nước: Là phần máu, mủ, mồ hôi, v.v…

c) Gió: Là hơi thở.

d) Lửa: Là hơi ấm.
"Tham - Sân - Si". theo giáo lý gọi đây là tam độc, cùng với tam độc này theo đó là cái tưởng, tức (vọng tưởng) phối hợp với 12 thứ đã nêu, đó là bản tính con người. Bao phủ tánh người với 16 thứ nêu trên, còn có 8 muôn 4 ngàn ảo giác luân chuyển của điện từ âm dương co bóp tánh người mà sinh ra muôn ngàn cái tưởng tượng. Tánh người hoạt động được là nhờ điện từ âm dương

PHẬT TÁNH


Điện từ Quang chính là sự sống cho Tánh Phật..

Con người tồn tại trên trái đất này, đều bị chi phối bởi sự cuốn hút (vật lý) của điện từ âm dương. Và khi con người (chết) rời bỏ xác thân này, thì điện tử âm dương với tư cách là Trung ấm thân vẫn tồn tại nhưng theo một (cơ chế khác). Vậy theo thuyết linh hồn, hay Duy thức Phật giáo thì khi con người chết chỉ là mất cái phần nhục thân này, chứ thực tế thân Trung Ấm mang điện từ (các hạt lượng tử chứa nghiệp) theo nghiệp dẫn tái sinh. Vậy, tánh người được hiểu là “năng lượng” của điện từ.

Về điều này, khoa học hiện đại ngày nay cũng cho rằng, con người chết đi nhưng năng lượng vẫn tồn tại một giai đoạn nhất định nào đó, bởi vậy mà các nhà khoa học gọi đây là trường sinh học. Còn Phật giáo gọi trường hợp này là Trung ấm thân mang điện từ.

Như vậy là theo giáo lý đạo Phật đã giúp chúng ta nhận ra tánh Phật gồm 4 thứ: hằng Thấy, hằng Nghe, hằng (nói) Pháp, hằng Biết, bốn thứ này luôn thanh tịnh, đây là chân tánh, hay còn gọi là chân như pháp tánh. Tánh này khác với tánh: Phải, Quấy, Hơn, Thua, Tốt, Xấu và 16 thứ của tánh người.

Vậy đức Phật và các tổ thầy dạy kiến tánh để tìm lại Bản lai diện mục Phật tánh của mình. Đây là thấy đạo, có nghĩa là “không phải vác Phật đi tìm Phật” như xưa vốn ta quên không nhận ra.. Như thế là nhờ tinh tấn tu tập ta sẽ loại bỏ lần lần được (tam độc) và trược khí của tánh người để hiển lộ dần tánh Phật trên lộ trình giác ngộ - giải thoát giới.


7. Giải thoát - Niết bàn

1- Trong tánh Phật có cái Ý và 4 thứ: Thấy, Nghe, Nói và Biết, tất cả đều là thanh tịnh, do điện từ Quang bao bọc thành một khối rất nhỏ, khối này gọi là “Phật tánh”.

Phật tánh này, nhìn vào Thế giới loài Người thấy lạ, nên tìm đường vào xem thử. Khi di chuyển vòng quanh thế giới loài Người, thấy có cái cửa. Phật tánh vừa đến trước cửa này, bất ngờ Phật tánh bị hút vào và bị rơi vào Thế giới loài Người. Cửa này gọi là “Cửa Hải Triều Âm”, có 2 nhiệm vụ:

A- Chuyên hút Phật tánh từ Bể tánh thanh tịnh Phật tánh vào Thế giới loài Người.

B- Chuyên hút các Trung Ấm Thân, bị luân hồi trong các cõi trở lại Thế giới loài Người để luân chuyển đi trong Lục đạo luân hồi.

Khi Phật tánh bị hút vào Thế giới loài Người, cứ quanh quẩn nơi thế giới này hoài. Sau cùng, gặp một đôi Nam Nữ đang giao hợp. Phật tánh mới đến gần nhìn, bất ngờ bị sức hút điện từ Âm Dương của đôi Nam Nữ này, hút Phật tánh vào đường tối đen và đưa vào tử cung của người Nữ ngủ suốt 9 tháng 10 ngày. Sau đó, Phật tánh bị dính vào thai nhi. Khi thai nhi được sinh ra thành 1 đứa trẻ, dần dần được thành là một con người. Phật tánh bị dính vào da thịt của con người. Con người có cái tánh gọi là “Tánh người”. Tánh người có cái vỏ bọ cấu tạo bằng điện từ Âm Dương, bao bọ toàn thân của con người lại. Tánh của con người có đến 16 thứ: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.

2- Thế giới loài Người, là Trung tâm vận hành luân hồi có 2 cửa như sau:

A- Cửa Hải Triều Âm: Nhiệm vụ như đã trình bày ở trên.

B- Cửa Hải Triều Dương: Chỉ có một nhiệm vụ là đẩy Phật tánh thoát ra ngoài “Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi”, để trở về Bể tánh thanh tịnh Phật tánh.

Trên đây là 2 cửa của Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi nơi Thế giới này.

Ở đây, ai muốn thoát ra ngoài Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi thì phải hiểu rõ 4 phần như sau:

Phần một: Phải biết và thực hiện 3 phần: Thanh tịnh, Rỗng lặng, Hằng tri.

A- Thanh tịnh: Tức không suy nghĩ, có công dụng như sau: Khi suy nghĩ thì chông gai của suy nghĩ nhô lên, nên dòng quét của điện từ Âm Dương kéo cái suy nghĩ của mình suy nghĩ đến chỗ mình suy nghĩ, đây là nguyên nhân bị luân hồi. Nếu tập cho tâm được hằng thanh tịnh, thì dòng luân hồi không có gì để nó quét đi, nên không bị luân hồi.

B- Rỗng lặng: Tức tập cho thân và tâm được ở trạng thái không trọng lượng, nên sức hút của điện từ Âm Dương không hút được. Nhờ vậy, thân tâm được lần lần trôi từ từ vào Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi. Khi thân tâm vào đúng trục Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi rồi, thì không bị dòng quét của điện từ Âm Dương nữa. Ai tập được như vậy, thì thân tâm của mình tự nhiên như không có.

Vì sao có trạng thái này?

Vì khi thân tâm được vào Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi rồi. Nó ở trong trạng thái không bị hút của Vật lý Âm Dương, nên thân tâm tự nhiên nghe như không trọng lượng. Vị nào tu tập được đến phần thứ hai này, gọi là đạt được “ Bí mật Thanh tịnh thiền”.

C- Hằng Tri: Khi tu tập thành tựu 2 phần nói trên, mà tâm lúc nào cũng Hằng tri; nhờ cái hằng Tri này, mới biết được 4 phần:

1- Biết Phật tánh của mình không dính với vọng tưởng của tánh người.
2- Biết thân tâm mình không bị sức hút của điện từ Âm Dương.
3- Biết mình đang ở Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi.
4- Mình nhìn thấy được “Của Hải Triều Dương”, là cửa trở về Phật giới.
Người tu Thanh tịnh thiền đạt được 4 phần nói trên, chỉ mới được “Tự tại” thôi, chứ giải thoát thì hoàn toàn chưa được.

Vì sao vậy?

Vì còn thiếu phương tiện để thoát ra ngoài Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi.
Phương tiện ấy là gì?

Chính là công đức.

Nói như người Thế gian này, thì công đức giống như vàng hay tiền vậy.
Ví dụ: Mình chuẩn bị hết các phần để đi đâu đó, nhưng vì còn thiếu tiền nên không đi được.

Vì vậy, người muốn thoát ra ngoài trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi, thì phải có công đức ít hay nhiều.

Phần 2: Tạo công đức và công dụng của nó

Vị nào muốn tạo ra công đức thì phải biết 4 việc như sau:

1- Giúp cho người khác biết được pháp môn Thanh tịnh thiền này, mà người đó phải thực hiện được thành công, thì mình mới có công đức.
2- Số công đức mà mình đã tạo ra đó, nó được lưu giữ trong vỏ bọc của tánh Phật.
3- Công đức là loại cực Dương và rất nặng.
4- Tánh Phật của mỗi người hiện đang bị vỏ bọc tánh Người giam giữ ở trong đó. Vì tánh Người nó là cực Âm và liên tục co bóp theo chu kỳ của điện từ Âm Dương. Nghe và biết rõ nhất là co bóp nhịp của quả tim.

Quả tim có 2 nhiệm vụ:
A- Cho máu tuần hoàn khắp châu thân, để nuôi sống thân Tứ đại này.
B- Để cho 16 thứ trong tánh Người luôn hoạt động. Nhờ 16 thứ của tánh Người liên tục hoạt động nên mới sinh ra 8 muôn 4 ngàn cái bong bóng ảo giác, để cho tánh Phật không còn Thấy, Nghe, Nói và Biết thanh tịnh nữa.

Nhờ cái ảo giác này mà con người sử dụng cái Tưởng mới có hiệu quả như:
– Tưởng: Ông này Bà kia làm ra Vũ trụ, loài Người và vạn vật.
– Tưởng: Cầu lạy ai đó, họ đổ Phước vào đầu mình!
– Tưởng: Cầu xin ai đó, họ đem mình đến nơi nào đó để hưởng sung sướng.
– Tưởng: Dụng công ngồi Thiền cho thật niêm mật sẽ được giác ngộ và giải thoát.

• Cũng vì cái Tưởng này, mà nó dẫn Phật tánh đi khắp trong 6 nẻo luân hồi không ngày cùng.
• Cũng vì cái Tưởng này, mà Người khôn lanh bịa ra không biết bao nhiêu chuyện để lừa những người ngu khờ dại dột, để họ ngồi trong mát mà hưởng bát vàng.

Phần ba: Mục đích của người tu theo pháp môn Thanh tịnh thiền là không dính với cái Tưởng của tánh Người. Đồng nghĩa, tánh Người có Tưởng tượng ra bao nhiêu kệ nó, mình đừng chạy theo cái Tưởng là đủ.

Xin nhấn mạnh cái Tưởng này:
– Cái Tưởng là của Tánh Người
– Tưởng tượng muôn đều không dính là an
– Theo Tưởng là phải gian nan
– Không theo vọng Tưởng về sang quê mình.

Phần bốn: Tánh Phật được tự do thoát ra ngoài Trung tâm vận hành Nhân quả Luân hồi để trở về Bể tánh thanh tịnh Phật tánh.

Đây là công thức tuyệt mật mà từ trước đến nay, chưa dạy chỗ đông người.

Người đã tạo ra được công đức thật nhiều hoặc vô lượng rồi, mà thực hành đúng pháp môn Thanh tịnh thiền. Khi người đó hết tuổi thọ, tự mình đến của Hải Triều Dương, vừa đến, của này tự động mở ra và đẩy vỏ bọc tánh Phật và khối công đức của người này vào Bể tánh thanh tịnh.

Khi vỏ bọc tánh Phật và khối công đức vừa qua cửa Hải Triều Dương, ánh sáng điện từ Quang chiếu vào vỏ bọc tánh Phật và khối công đức. Tức khắc, khối công đức liền định hình là 1 “Ngôi nhà Pháp thân Thanh tịnh”. Cũng từ trong Ngôi nhà Pháp thân Thanh tịnh này, khối công đức ấy hình thành ra 1 “Kim Thân Phật”. Tánh Phật ẩn vào Kim Thân Phật này, tức khắc 1 vị Phật được “sinh ra”.

Một vị Phật được sinh ra, việc làm của vị Phật có 5 nơi tùy theo số công đức của vị Phật ấy, như:

1- Vị Phật có công đức vô lượng, thì được phân thân đến bất cứ đâu trong Càn khôn Vũ trụ, thấy người nào muốn giải thoát, giúp họ.

2- Vị Phật có công đức thật nhiều, thì được phân thân đến 1 vùng Tam Thiên Đại thiên Thế giới, thấy người nào muốn giải thoát, giúp họ.

3- Vị Phật có công đức vừa, thì được phân thân đến 1 vùng Trung thiên Thế giới, thấy người nào muốn giải thoát, giúp họ.

4- Vị Phật có công đức nhỏ, thì phân thân đến 1 vùng Tiểu thiên Thế giới, thấy người nào muốn giải thoát, giúp họ.

5- Vị Phật có công đức thật ít, chỉ được phân thân đến Thế giới, mà trước kia vị Phật đó sinh sống, thấy người nào muốn giải thoát, giúp họ.

Đức Phật dạy thêm:

Vị Phật có công đức thật ít, tự mình không vượt cửa Hải Triều Dương được, thì trong Bể tánh thanh tịnh có vị Phật đến của Hải Triều Dương trợ giúp người này vượt qua cửa Hải Triều Dương.

8. Phá chấp cuối cùng

- Tuỳ Duyên bất biến - bất biến tuỳ duyên

“Tùy duyên mà bất biến” nghĩa là các pháp phương tiện được khai mở ra, nhưng không đi quá xa và quá đà. Nếu tùy duyên thái quá mà không giữ được tinh túy của giáo pháp là vong bản, biến chất, bị đồng hóa.

Mặt khác, “Bất biến mà tùy duyên” nghĩa là luôn giữ gìn bản sắc, tinh hoa của Chánh pháp nhưng không cứng nhắc, giáo điều để rồi tự đánh mất sự linh hoạt, năng động và tiệp thế.

Chánh pháp cần phải được đem áp dụng rộng rãi trong cuộc đời, giúp con người và cuộc đời vơi bớt khổ đau, nên “Tùy duyên mà bất biến, bất biến mà tùy duyên” chính là hành trang, là phương tiện cần thiết để những người con Phật dấn thân nhập thế, lợi đạo và ích đời.

Kết luận:  Như lai có nói một câu là 49 năm thuyết pháp, ngài không nói một câu. Là ẩn ý của câu tuỳ duyên này.

Ngoài không chấp trước -  Trong không động tâm

Phần cuối của “Kinh Kim Cang”, Thích Ca Mâu Ni Phật căn dặn Tôn giả Tu Bồ Đề, Bồ Tát trụ thế nhất định phải tự hành hóa tha. Phải dùng thái độ gì để tự hành hóa tha? Đức Thế Tôn dạy Ngài “Bất thủ ư tướng, như như bất động”, tám chữ này tức là thiền định. “Bất thủ ư tướng”, tức là ngoài không chấp vào tướng. “Như như bất động” tức là bên trong không động lòng. Nói cho đơn giản, dễ hiểu một chút thì người tu hành tuyệt đối không thể bị ngoại cảnh cám dỗ, mê hoặc, đó là “Không chấp tướng”. Không phải là rời bỏ cảnh giới bên ngoài, rời khỏi rồi, còn gì mà độ chúng sanh? Tuy tiếp xúc nhưng quyết không chấp tướng, quyết không bị ảnh hưởng, đó là “Thiền”. Bên trong không động tâm, không động tâm nào? Không động bởi tham, sân, si, mạn; không động thị phi nhân ngã, quyết không có phân biệt, chấp trước, đó là “Định”.

Thích Ca Mâu Ni Phật dạy Tôn giả Tu Bồ Đề: “Bất thủ ư tướng, như như bất động”. Thiền tông do Lục Tổ truyền lại, “Thiền định” là từ hai câu này mà ra. “Không chấp trước tướng là thiền, không động tâm là định”. Thiền định thật sự là khi lục căn tiếp xúc với cảnh giới lục trần mà không khởi tâm, không chấp tướng, chứ không phải là ngồi xếp bằng hàng ngày. Nếu thân tuy ngồi xếp bằng, tâm thì vọng tưởng, đó là thiền định gì? Chấp trước tướng thì không có thiền, ý niệm động thì không có định.

Phật và Đại Bồ Tát luôn ở trong định, đại định thì không có xuất [định] nhập [định]. “Thủ Lăng Nghiêm đại định”, “Na Dà thường tại định, vô hữu bất định thời” (Na Dà chỉ Phật, Bồ Tát) nói trong “Kinh Lăng Nghiêm”. Đi, đứng, nằm, ngồi đều ở trong định, chư Phật và Bồ Tát đều thường là như vậy.

Trích NIỆM PHẬT THÀNH PHẬT
Pháp Sư Tịnh Không


Tâm ngộ thật tướng:

Tâm ngộ: Tâm thức nhận ra, hiểu rõ.
Thật tướng: Thực tại, bản chất thật sự của mọi sự vật, hiện tượng.
Tâm ngộ thật tướng nghĩa là tâm thức giác ngộ và nhận ra được bản chất thật sự của thế giới và các sự vật, hiện tượng xung quanh, không bị mê lầm bởi những ảo tưởng hay quan niệm sai lầm.
Duyên khởi tánh không:

Duyên khởi: Mọi sự vật, hiện tượng đều do nhiều nhân duyên mà sinh khởi, không có gì tồn tại độc lập hay tự mình có.
Tánh không: Sự trống rỗng, không thực chất của các pháp.
Duyên khởi tánh không nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng đều sinh khởi do nhân duyên và bản chất của chúng là không thực, không tự có, tức là không có thực thể cố định.

Tự giác, giác tha:

Tự giác: Tự mình giác ngộ, tự nhận ra chân lý.
Giác tha: Giúp người khác giác ngộ, giúp người khác hiểu được chân lý (Tạo công đức xây kim thân phật).
Tự giác, giác tha nghĩa là không chỉ tự mình tìm kiếm và nhận ra chân lý, mà còn phải giúp đỡ, dẫn dắt người khác trên con đường giác ngộ.

Từ bi hỷ xả:

Từ: Tình thương, mong muốn mang lại hạnh phúc cho người khác.
Bi: Lòng thương xót, muốn giúp đỡ và giải thoát khổ đau cho người khác.
Hỷ: Niềm vui, sự hoan hỷ khi thấy người khác hạnh phúc.
Xả: Buông bỏ, không chấp trước, không giữ sự phiền muộn hay hận thù.
Từ bi hỷ xả là bốn đức tính cơ bản trong Phật giáo, là nền tảng của lòng từ thiện, tình thương và sự bao dung, giúp con người sống một cuộc đời thanh thản và an lạc.

Khi kết hợp lại, câu "tâm ngộ thật tướng, duyên khởi tánh không, tự giác, giác tha, từ bi hỷ xả" có thể hiểu là:

Tâm thức giác ngộ được bản chất thật sự của thế giới (thật tướng).
Nhận thức rằng mọi sự vật đều do nhân duyên mà sinh khởi và bản chất của chúng là trống rỗng (tánh không).
Không chỉ tự mình giác ngộ mà còn giúp đỡ người khác cùng giác ngộ.
Sống với lòng từ bi, thương yêu, niềm vui, và sự buông bỏ, không chấp trước.
Đây là những yếu tố quan trọng trong con đường tu tập và thực hành để thành Phật, hướng tới sự giác ngộ và giải thoát.

Đặc tính của một "Vị Phật" trong toàn thể vũ trụ

1. Tâm Hằng Thanh Tịnh
2. Hành khuất thực, trì bát, chân trần
3. Tướng như lai
4. Đi khắp nơi giáo hoá và độ chúng sinh
5. Các hạnh tu để thành phật (8.400 ngàn) tuỳ duyên
6. Các đại thệ nguyện của một vị phật
7. Làm lợi cho trời, người và muôn vạn chúng sinh.
8. Tạo công đức.
9.  Xây dựng nước tịnh độ cho riêng mình.
10. Trì hạnh giải thoát